Quy định mới về Công ty cho thuê tài chính

Khái niệm Công ty cho thuê tài chính (CTCTTC)

Công ty cho thuê tài chính (CTCTTC) là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, là pháp nhân Việt Nam; được thành lập và hoạt động tại Việt Nam dưới 3 hình thức: CTCTTC trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; CTCTTC trách nhiệm hữu hạn một thành viên và CTCTTC cổ phần. Việc chuyển đổi sở hữu, thay đổi hình thức CTCTTC thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Đó là một trong những nội dung sửa đổi tại Nghị định số 95/2008/NĐ-CP ngày 25/8/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 về tổ chức và hoạt động của CTCTTC vừa được Chính phủ ban hành.

Tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính

Cũng theo Nghị định này, CTCTTC liên doanh là CTCTTC được thành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp của Bên Việt Nam và Bên nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. CTCTTC liên doanh được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.

CTCTTC 100% vốn nước ngoài là CTCTTC được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu của một hoặc một số tổ chức tín dụng nước ngoài và được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.

Việc chuyển nhượng phần vốn góp của các bên trong các CTCTTC được thực hiện theo các quy định của pháp luật và theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Một công ty được coi là công ty trực thuộc của CTCTTC nếu đáp ứng 1 trong các điều kiện: Có trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông đã phát hành thuộc sở hữu của CTCTTC; việc bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc của công ty thuộc quyền quyết định của CTCTTC; việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty thuộc quyền quyết định của CTCTTC.

Nghị định cũng quy định rõ, ngoài các điều kiện đã được quy định, CTCTTC liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài muốn hoạt động hợp pháp phải được tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luật nước nguyên xứ cho phép hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam; có tổng tài sản trên 10 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn, trừ trường hợp Hiệp định đầu tư song phương giữa Việt Nam và nước nguyên xứ có quy định khác.